Thần kinh

Rối loạn lưỡng cực

Rối loạn lưỡng cực (RLLC) còn được gọi là rối loạn hưng cảm – trầm cảm, là một bệnh lý thần kinh, được đặc trưng bởi giai đoạn trạng thái tinh thần tăng cao bất thường (hưng cảm) theo sau đó là các giai đoạn trạng thái tinh thần cực kỳ xuống thấp (trầm cảm).

Khi chúng ta trải qua các thay đổi về trạng thái tinh thần theo thời gian, sự chuyển đổi trạng thái tinh thần cực đoan được quan sát thấy trên những bệnh nhân bị rối loạn lưỡng cực là rất khác nhau. Trong giai đoạn hưng cảm của bệnh, người rối loạn lưỡng cực có thể trải qua các cảm giác như trạng thái phởn phơ, cực kỳ lạc quan hoặc tự tin quá mức, suy nghĩ nhanh và trạng thái kích thích. Họ có thể có một ít nhu cầu ngủ nghỉ, và hành động bốc đồng và ngay cả cư xử cũng theo một cách bất cẩn. Trong giai đoạn trầm cảm, cũng con người đó có cảm giác buồn bã, vô vị hoặc vô vọng, còn một ít năng lượng, thể hiện sự thay đổi về hình thức ngủ nghỉ và biểu hiện các dấu hiệu trầm cảm trên lâm sàng.

Các triệu chứng về rối loạn lưỡng cực có thể gây nên sự đau khổ nặng nề và dẫn tới tổn hại các mối quan hệ, năng suất làm việc thấp và thậm chí là có ý tự tử. Tuy nhiên, còn một lý do để hy vọng; trong khi chưa có phương pháp chữa lành rối loạn lưỡng cực thì bệnh này có thể kiểm soát và quản lý một cách hiệu quả.

RLLC ngày nay được điều trị với phác đồ phối hợp thuốc và tâm lý trị liệu. Thuốc sẽ giúp ổn định trạng thái tinh thần, trong khi đó điều trị giúp bệnh nhân hiểu về trạng thái tâm lý và hành vi của họ, phát hiện được các hình thức hoặc các yếu tố thúc đẩy và từ đó phát triển các chiến lược quản lý trạng thái tinh thần khi nó thay đổi và các triệu chứng liên quan.

Các triệu chứng và dấu hiệu khác của RLLC

Triệu chứng và dấu hiệu của RLLC loại I và loại II có thể gồm các đặc điểm bổ sung sau:

  • Buồn bã do lo lắng—thể hiện lo lắng, ví dụ cảm giác bị kích động, căng thẳng hoặc bồn chồn, thể hiện có vấn đề khi tập trung do lo lắng, sợ điều gì khủng khiếp có thể xảy ra, hoặc cảm giác là bạn không thể kiểm soát được bản thân mình.
  • Các đặc điểm hỗn độn— hội đủ các tiêu chuẩn về giai đoạn hưng cảm hoặc giảm hưng cảm, nhưng cũng có một số hoặc tất cả các triệu chứng của giai đoạn trầm cảm thể hiện cùng lúc.
  • Các đặc điểm của sự sầu muộn — thiếu sự vui tươi trong hầu hết các hoạt động và không hề thấy cảm giác tốt hơn, ngay cả khi có điều gì đó tốt đẹp xảy ra.
  • Các đặc điểm không điển hình— trải qua các triệu chứng mà nó không tiêu biểu của trầm cảm nặng, như thấy cải thiện rõ rệt về trạng thái tinh thần khi điều gì tốt đẹp xảy ra.
  • Cử chỉ hành động bất thường— không phản ứng lại môi trường, giữ cơ thể ở tư thế bất thường, không nói, hoặc không bắt chước được hành động hoặc lời nói của một người khác.
  • Khởi phát ở giai đoạn chu sinh— triệu chứng RLLC xảy ra trong thời gian mang thai hoặc trong vòng 4 tuần sau khi sinh.
  • Kiểu bệnh theo mùa—các hình thái hưng cảm, giảm hưng cảm hoặc trầm cảm nặng thay đổi theo mùa .
  • Chu kỳ thay đổi nhanh —thể hiện 4 hoặc nhiều đợt thay đổi trạng thái tâm lý trong vòng 1 năm, có đợt lui bệnh toàn phần hoặc một phần hưng cảm, giảm hưng cảm hoặc trầm cảm nặng.
  • Bệnh tâm thần — đợt nặng của hưng cảm hoặc trầm cảm (nhưng không có giảm hưng cảm) gây ra sự cách ly khỏi thực tế và có các triệu chứng về niềm tin sai lệch hoặc niềm tin mãnh liệt (ảo tưởng) và nghe hoặc thấy điều gì đó mà nó không hiện diện (ảo giác).

Nếu có thắc mắc liên quan đến chăm sóc sức khỏe cụ thể, vui lòng trao đổi với thầy thuốc chuyên khoa của bạn.

Tài liệu tham khảo:
  1. Papadakis MA, McPhee SJ, Rabow MW. Current Medical Diagnosis & Treatment. 54th ed. Lange; 2015.

Trầm cảm

Trầm cảm là một rối loạn trạng thái cảm xúc gây ra một cảm xúc buồn bã và mất hứng thú dai dẳng. Nó còn được gọi là Trầm cảm nặng, là dạng rối loạn trầm cảm hoặc trầm cảm trên lâm sàng, nó tác động lên cách bạn cảm thấy, nghĩ về hoặc hảnh xử và có thể dẫn đến một loạt các vấn đề xúc cảm hoặc thực thể. Bạn có thể gặp rắc rối trong các công việc hàng ngày, và trầm cảm có thể làm bạn cảm giác là cuộc đời này không đáng để sống.

Hơn cả cảm giác buồn bã, trầm cảm không phải yếu mệt, cũng không phải là điều gì đó mà bạn có thể đơn giản là "từ bỏ" nó. Trầm cảm có thể cần phải điều trị lâu dài nhưng không được nản lòng. Hầu hết những người sống với trầm cảm sẽ cảm thấy khá hơn khi dùng thuốc, tư vấn tâm lý hoặc kết hợp cả hai. Các liệu pháp điều trị khác có thể có hiệu quả.

Mặc dù trầm cảm có thể xảy ra chỉ một lần trong suốt cuộc đời, thường người ta có nhiều đợt trầm cảm. Trong các đợt này, triệu chứng xảy ra ở hầu hết các ngày, gần như mỗi ngày và có thể gồm:

  • Cảm giác buồn bã, trống vắng và không hạnh phúc
  • Cáu gắt, trạng thái kích thích hoặc nổi giận, ngay cả đối với những sự việc không đáng
  • Mất hứng thú hoặc sở thích trong các hoạt động bình thường, ví dụ như tình dục
  • Rối loạn giấc ngủ, kể cả mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều
  • Mệt mỏi và thiếu năng lượng, những công việc đơn giản lại rất tốn nhiều công sức
  • Thay đổi về khẩu vị - thường là giảm ngon miệng và giảm cân, nhưng ở một số người thì lại tăng thèm ăn và tăng cân.
  • Lo lắng, kích động hoặc không lúc nào yên — ví dụ: lo lắng quá mức, tăng tốc độ, bóp tay hoặc không thể ngồi yên.
  • Tư duy, nói hoặc chuyển động cơ thể chậm chạp
  • Các cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi, cố hữu với thất bại trong quá khứ hoặc trách cứ bản thân vì những điều không thuộc trách nhiệm của mình
  • Tư duy có vấn đề, khả năng tập trung, khả năng ra quyết định cũng như ghi nhớ sự vật
  • Thường nghĩ về chết, tự vẫn, hoặc tự vẫn thật
  • Các vấn đề về thể chất không thể giải thích được, ví dụ: đau lưng hoặc đau đầu.

Nếu muốn biết thông tin về Trầm cảm, vui lòng trao đổi với bác sỹ chuyên khoa của bạn.

Tài liệu tham khảo:
  1. Papadakis MA, McPhee SJ, Rabow MW. Current Medical Diagnosis & Treatment. 54th ed. Lange; 2015.

Đau thần kinh ngoại biên do đái tháo đường

Thần kinh cho phép cơ thể bạn cảm giác về nhiệt độ, đau và các cảm giác khác.

Các dây thần kinh bị tổn thương sẽ trở nên nhạy cảm quá mức, những chuyển động nhẹ nhất hoặc tiếp xúc nhẹ nhàng trên da cũng có thể làm kích hoạt cơn đau nặng nề. Bệnh lý thần kinh do đái tháo đường là một kiểu tổn thương thần kinh xảy ra trên bệnh nhân đái tháo đường. Đường huyết tăng cao có thể làm tổn thương các sợi thần kinh trong cơ thể, nhưng bệnh lý thần kinh do đái tháo đường thì thường gặp nhất là làm tổn thương các dây thần kinh ở cẳng chân và bàn chân.

Tùy thuộc vào dây thần kinh nào bị ảnh hưởng, mà triệu chứng của bệnh lý thần kinh do đái tháo đường có thể thay đổi từ mức độ đau và tê ở đầu các chi cho đến các vấn đề về hệ tiêu hóa, đường niệu, mạch máu và tim. Đối với một số người, các triệu chứng này có thể nhẹ; còn đối với người khác thì bệnh lý thần kinh do đái tháo đường có thể gây đau đớn, tàn phế và thậm chí tử vong.

Đau thần kinh ngoại biên do đái tháo đường ảnh hưởng đến chức năng, trạng thái cảm xúc, và các kiểu giấc ngủ từ khoảng 10 đến 20% bệnh nhân đái tháo đường. Mục tiêu điều trị gồm có phục hồi chức năng và cải thiện kiểm soát cơn đau.

Bệnh lý thần kinh do đái tháo đường là một biến chứng nghiêm trọng thường gặp của đái tháo đường. Tuy nhiên, bạn có thể phòng ngừa được bệnh lý thần kinh này hoặc làm chậm tiến triển của nó nếu kiểm soát chặt chẽ đường huyết và có lối sống lành mạnh.

Thầy thuốc có thể cung cấp thông tin về các chọn lựa điều trị có sẵn cho bạn.

Tài liệu tham khảo:
  1. Papadakis MA, McPhee SJ, Rabow MW. Current Medical Diagnosis & Treatment. 54th ed. Lange; 2015.

Đau cơ sợi

Đau cơ sợi là một rối loạn được đặc trưng bởi cơn đau cơ xương lan tỏa, đi kèm với mệt mỏi, và các vấn đề về giấc ngủ, trí nhớ và trạng thái cảm xúc. Các nhà nghiên cứu tin rằng đau cơ sợi làm tăng thêm cảm giác đau bằng cách tác động lên đường tín hiệu mà não của bạn xử lý tín hiệu đau.

Chưa rõ lý do, khoảng 80-90% những người được chẩn đoán bệnh Đau cơ sợi là phụ nữ; tuy nhiên, nam giới và trẻ em cũng có thể mắc phải. Bệnh này có khuynh hướng gia đình. Chẩn đoán Đau cơ sợi thường phổ biến nhất ở tuổi trung niên, nhưng cũng có thể ở các nhóm tuổi khác.

Các triệu chúng của Đau cơ sợi có thể gồm:

  • Hội chứng kích thích ruột
  • Đau do hành kinh
  • Tê hoặc châm chích ở chi
  • Hội chứng chân không yên
  • Nhạy cảm với nhiệt độ
  • Các vấn đề về ghi nhớ và nhận thức

Đau cơ sợi có thể khó chẩn đoán và điều trị. Có một số thuốc hiện nay có thể giúp kiểm soát được bệnh.

Thầy thuốc có thể cung cấp thông tin về các chọn lựa điều trị có sẵn cho bạn cũng như lập kế hoạch thể dục và điều chỉnh lối sống để làm giảm thiểu tác động của Đau cơ sợi.

Tài liệu tham khảo:
  1. Papadakis MA, McPhee SJ, Rabow MW. Current Medical Diagnosis & Treatment. 54th ed. Lange; 2015.

Rối loạn lo âu lan toả

Lo lắng và lo âu là một phần tự nhiên của cuộc sống, và trên thực tế, những cảm xúc lo âu có thể giúp chúng ta chuẩn bị đương đầu với những tình huống khó khăn và căng thẳng.

Những người bị rối loạn lo âu lan tỏa không thể nào dứt bỏ được những sự quan tâm, ngay cả khi họ thường nhận thấy rằng sự lo âu của họ nhiều hơn là cần thiết. Họ không thể thư thái, họ dễ giật mình hốt hoảng, và khó tập trung. Thường thì họ có vấn đề về giấc ngủ hoặc luôn cảm thấy buồn ngủ. Các triệu chứng thực thể thường kèm với lo âu gồm có:

  • Mệt mỏi
  • Nhức đầu
  • Căng cơ
  • Đau cơ
  • Khó nuốt
  • Run sợ
  • Bồn chồn
  • Kích thích
  • Đổ mồ hôi
  • Buồn nôn
  • Đầu ốc trống rỗng
  • Phải đi vệ sinh thường xuyên
  • Cảm giác hụt hơi
  • Cơn bốc hỏa

Rối loạn lo âu lan tỏa phát triển chậm. Nó thường bắt đầu trong lứa tuổi thanh thiếu niên hoặc người trẻ. Triệu chứng có thể cải thiện tốt hơn hoặc trở nên xấu hơn tùy vào từng thời điểm, và thường xấu hơn trong những lần bị căng thằng.

Khi lo âu ở mức nhẹ, người bệnh có thể hoạt bát và tận tụy với công việc. Mặc dù họ không tránh được một số tình huống do bệnh này gây ra, người bệnh có thể khó thực hiện các công việc đơn giản nhất hàng ngày nếu lo âu của họ trở nặng.

Trong khi nguyên nhân đặc hiệu của Rối loạn lo âu lan tỏa còn chưa được biết rõ, thầy thuốc nhận diện được nhiều yếu tố sinh học và tâm lý khác nhau. Các nghiên cứu cho thấy Rối loạn lo âu lan tỏa có khuynh hướng xảy ra trong gia đình, nhưng người ta có thể nhiễm sự lo âu và lo lắng.

Điều trị Rối loạn lo âu lan tỏa có thể phải dùng thuốc cũng như tư vấn về tâm lý, hoặc phối hợp cả hai.

Bác sĩ chuyên khoa sức khỏe tâm thần có thể giúp bạn hiểu thêm về bệnh này.

Tài liệu tham khảo:
  1. Papadakis MA, McPhee SJ, Rabow MW. Current Medical Diagnosis & Treatment. 54th ed. Lange; 2015.

Tâm thần phân liệt

Tâm thần phân liệt là một rối loạn thần kinh – sinh học phức tạp, được cho là gây ra bởi sự mất quân bình các chất hóa sinh trong não bộ. Triệu chứng thường xuất hiện ở thanh thiếu niên hoặc ở người trưởng thành trẻ tuổi, gồm: ảo tưởng, ảo giác, rối loạn về tư duy và giao tiếp, và trốn tránh các hoạt động xã hội.

Nếu không điều trị, ngoài việc tăng thêm gánh nặng về kinh tế và xã hội, bệnh Tâm thần phân liệt có thể gây tốn kém về tài chính và cú sốc về cảm xúc đối với người bệnh và gia đình họ. Không may, do bản chất của bệnh Tâm thần phân liệt, có thể dẫn đến sự bóp nghẹt, cảm giác bỏ rơi và thậm chí là tự tử đối với người bệnh.

Mặc dù không chữa khỏi bệnh Tâm thần phân liệt, nhưng bệnh này có thể điều trị được, và nhiều người mắc bệnh này vẫn tiếp tục sống trong giai đoạn hồi phục. Bác sỹ tâm thần nhất trí rằng ngày nay, cách tốt nhất để quản lý bệnh Tâm thần phân liệt là kết hợp điều trị thuốc và can thiệp tâm lý xã hội, đây là thuật ngữ dùng để mô tả hàng loạt các hình thức điều trị khác nhau như: tư vấn tâm lý, chương trình giáo dục bệnh nhân và các dịch vụ hỗ trợ khác.

Có một số thuốc hiện nay có thể điều trị bệnh Tâm thần phân liệt. Bởi vì bệnh của mỗi người là rất khác nhau, thuốc dùng cho mỗi người cũng khác nhau và loại thuốc, liều thuốc cần thiết cũng thay đổi theo từng cá thể. Bất kể là dùng loại thuốc nào, sự theo dõi liên tục và thường xuyên là rất quan trọng nhằm đảm bảo rằng bệnh nhân dùng đúng thuốc như kê đơn, nhằm phát hiện khi nào bệnh nhân đáp ứng tốt (và khi nào không đáp ứng) và để theo dõi tác dụng bất lợi của thuốc.

Khi can thiệp sớm và điều trị đúng, nhiều bệnh nhân sống với Tâm thần phân liệt có thể kiểm soát được bệnh và sống một cuộc sống đầy ý nghĩa.

Triệu chứng và dấu hiệu của Tâm thần phân liệt:

  • Ảo tưởng: Đây là những niềm tin sai lầm, không dựa trên thực tế. Ví dụ, bạn đang bị hãm hại hoặc bị quấy rối; một số cử chỉ nào đó hoặc những góp ý được tập trung vào bạn; bạn có khả năng xuất chúng hoặc nổi tiếng; một người khác đang yêu bạn; một tai họa khủng khiếp sắp xảy ra; hoặc cơ thể của bạn không hoạt động bình thường. Sự ảo tưởng xảy ra khoảng 4/5 người bị Tâm thần phân liệt.
  • Ảo giác: Là những cảm giác về thấy hoặc nghe điều gì đó mà nó không tồn tại. Tuy nhiên đối với người tâm thần phân liệt, họ có sức mạnh dồi dào và ảnh hưởng của một kinh nghiệm bình thường. Ảo giác có thể ở bất kỳ cảm giác nào, nhưng nghe được giọng nói là dạng thường gặp nhất.
  • Tư duy hỗn độn (lời nói):Tư duy hỗn độn được xem là lời nói hỗn độn. Giao tiếp hiệu quả bị suy yếu, và trả lời câu hỏi chỉ một phần hoặc hoàn toàn không liên quan gì với nhau. Trường hợp hiếm là lời nói có thể gồm những từ ghép nhau không có nghĩa gì và không hiểu được, đôi khi gọi nó là món sà lát trộn các từ.
  • Hành vi hoạt động bất thường hoặc cực kỳ hỗn độn: Một số hình thức thay đổi từ sự ngớ ngẩn giống trẻ em cho đến sự quá khích không tiên đoán được. Hành vi không tập trung vào mục tiêu, làm cho khó thực hiện các nhiệm vụ được giao. Hành vi vận động bất thường có thể gồm kháng cự lại với hướng dẫn, có dáng điệu lạ lùng hoặc không phù hợp, hoàn toàn không đáp ứng, hoặc cử động quá mức hoặc không cần thiết.
  • Các triệu chứng âm tính: Gồm giảm hoặc mất khả năng hoạt động bình thường. Ví dụ: một người không biểu lộ được cảm xúc như: không có tiếp xúc bằng mắt, không thay đổi biểu thị ở khuôn mặt, nói mà không có diễn cảm hoặc nói đều đều, hoặc không di chuyển đầu hoặc tay mà người bình thường dùng để diễn đạt để nhấn mạnh khi nói. Một người cũng có thể bị giảm khả năng lập kế hoạch hoặc thực hiện các hoạt động, ví dụ như: ít nói đi và không quan tâm đến vệ sinh cá nhân, hoặc bị mất hứng thú vào các hoạt động hằng ngày, rút lui khỏi xã hội và mất khả năng trải nghiệm sự sung sướng.

Để biết thêm thông tin về bệnh Tâm thần phân liệt, hãy hỏi bác sĩ của bạn.

Tài liệu tham khảo:
  1. Papadakis MA, McPhee SJ, Rabow MW. Current Medical Diagnosis & Treatment. 54th ed. Lange; 2015.

Đau mạn tính

Đau mạn tính thường được định nghĩa là cơn đau kéo dài trên 12 tuần. Trong khi đau cấp tính là cảm giác đau bình thường, nó cảnh báo chúng ta về chấn thương có thể xảy ra, đau mạn tính thì khác biệt. Đau mạn tính kéo dài – thường nhiều tháng hoặc lâu hơn.

Đau mạn tính có thể xuất hiện từ một chấn thương đầu tiên, ví dụ như bong gân vùng lưng, hoặc có một nguyên nhân đang xảy ra, ví dụ như bệnh. Tuy nhiên, cũng có những nguyên nhân chưa rõ ràng. Các vấn đề sức khỏe khác như: mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, mất ngon miệng, và thay đổi sắc thái tính tình, thường đi kèm với đau mạn tính. Đau mạn tính có thể hạn chế sự vận động của một người, nó làm giảm tính mềm dẻo, sức mạnh và sức bền. Điểm khó khăn này đang diễn ra khi thực hiện các hoạt động lý thú và quan trọng có thể dẫn đến tàn phế và thất vọng.

Viêm xương khớp:

Theo Đại học Thấp khớp của Hoa Kỳ, viêm xương khớp là một nhóm bệnh không đồng nhất dẫn đến các triệu chứng và dấu hiệu về khớp có mối liên hệ với tổn thương sụn khớp, ngoài những thay đổi có liên quan đến bệnh tại xương ở vùng cạnh khớp. Dạng thường gặp nhất của viêm khớp, và là một nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế và thường tiến triển. Thường xảy ra nhất ở bàn tay, gối, hông và cột sống.

Đau vùng thắt lưng mạn tính:

Đau, căng cơ, hoặc cứng khớp tại chỗ, nằm phía dưới bờ sườn và ở trên nếp gấp bẹn ở dưới, có hoặc không có đau chân. Sự chẩn đoán dựa trên tiền sử có trọng điểm và khám thực thể, vị trí và thời gian đau, triệu chứng bệnh rễ thần kinh hoặc chít hẹp, hiện diện và mức nghiêm trọng của suy yếu thần kinh. Các yếu tố tâm lý xã hội, chẩn đoán hình ảnh và các test chẩn đoán khác thường không được khuyến cáo trừ khi có hiện tượng suy yếu thần kinh nặng / có nghi ngờ các bệnh lý nặng khác.

Để biết thêm thông tin, vui lòng liên hệ với bác sĩ của bạn.

Tài liệu tham khảo:
  1. Altman R, et al. Arthr Rheum 1986;29(8):1039-1049.
  2. Issa SN, et al. Current Rheum Reports 2006;8:7-15.
  3. Felson D, et al. Ann Intern Med 2000;133:635-646.
  4. Sarzi-Puttini P, et al. Semin Arthritis Rheum 2005;35(1):1-10.
  5. Williams FMK, et al. Medicine 2006;34(9):364-368.
  6. Koes BW, et al. BMJ 2006;332:1430-1434.
  7. Chou R, et al. Ann Intern Med. 2007;147(7):478-491.
Top